ngôn ngữ sài gòn xưa

*Ngôn ngữ Sài Gòn trước 1975 mang đậm chất "lính". Cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ "leo thang chiến tranh" với lệnh "tổng động viên" trên toàn lãnh thổ. Thanh niên đến tuổi 18 đều bị "động viên" vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được "hoãn dịch" vì lý Tư Duy Ngôn Ngữ. Lev Semyonovich Vygotsky. 0 nhận xét. Đời sống, phong tục người Việt xưa trong mắt tác giả phương Tây. 09/11/2019. Xem chi tiết Du Tử Lê và những cuốn sách ở lại bên này thế giới. 09/11/2019. Xem chi tiết Sài gòn xưa là Sài gòn trước 75 quay ngược lại năm 54, không phải trong thập niên 30 hay 40. Tân Nhạc manh nha ở Sài gòn nhưng lại hình thành và phát triển mạnh hơn ở phía Bắc. Sau hiệp định Geneve 54, Sài gòn mới có Tân nhạc như là một trung tâm ca nhạc muôn mặt với một đội ngũ nhạc sĩ đa dạng, tạo nên trào lưu âm nhạc mới gọi là : nhạc Sài gòn. Nhà hát múa rối nước là một địa điểm giải trí cho thiếu nhi tại Sài Gòn đậm chất xưa. Nghệ thuật múa rồi có ở nhiều nước trên thế giới nhưng múa rối nước thì chỉ có duy nhất ở nước ta. Sân khấu là mặt nước. Phía dưới mặt nước là hệ thống điều khiển NHỚ SÀI GÒN. Bài này nhằm để ghi nhớ lại những từ mà ngày xưa người Sài Gòn/Miền Nam hay dùng, như: Mèn ơi, Nghen, Hén, Hen, Tà Tà, Thềm ba, Cà rịch cà tang, tàn tàn,…, và những câu thường dùng như: Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, làm nư, cứng đầu cứng cổ, tháng mười Wie Flirten Männer Die Es Ernst Meinen. Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức, Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Người dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam. Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ “quản lý” là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu “Anh xin quản lý đời em”. Hoặc từ “chế độ” cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như “chế độ dân chủ”. Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như “chế độ xem”, “chế độ bao cấp”. Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản – giản đơn; bảo đảm – đảm bảo; dãi dầu – dầu dãi; vùi dập – dập vùi. Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là “tiếng Việt toàn dân”. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục. Bảng chỉ dẫn sai chính tả trầm trọng. Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chứchữu trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng nhưsổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít. Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa. Cô giáo dạy tiếng Việt. Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng. Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là “chữ của Việt Cộng” và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ “cộng sản” nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó. Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. “Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt” trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006 Sách Giáo Khoa thời VNCH. Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi “Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết.” Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!! Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản. Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau Trong nước Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay “Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu”. nước Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện. Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng… Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch. Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng Anh sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ! Tiếng Việt xuống hàng không đúng cách sẽ ra ý khác. Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu. Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là “cái chết của một ngôn ngữ”. Đau lòng lắm thay! Nếu nói không ngoa thì bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều trải qua sự vay mượn từ những ngôn ngữ khác để hình thành vốn ngôn ngữ riêng. Ảnh hưởng văи hóa được xem là một trong những tác động cнíɴн cho việc hình thành sự vay mượn về mặt ngôn ngữ của các nước. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, xã hội và cнíɴн trị. Điển hình là miền Nam nói chung hay toàn Sài Gòn nói riêng vốn là “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với nhiều nền văи hóa khác như Trung Quốc, Pháp, Mỹ hay Anh. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã phần nào giải thích được lý do vay mượn ngôn ngữ của người Sài Gòn trong ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” như sau “Một nghìn năm đô hộ ԍιặc Tàu, một trăm năm đô hộ ԍιặc Tây, hai mươi năm nội cнιếɴ từng ngày…”. Thử hỏi, có một Việt Nam trải qua cả ba thời kỳ ảnh hưởng như thế từ Tàu, sang Tây rồi đến cuối cùng Mỹ thì ngôn ngữ có bị chịu tác động hay không chứ? Trước hết là về tiếng Trung Hoa hay ta vẫn thường nôm na gọi một cách “mỉa mai” là tiếng Tàu cùng những biến thể khi gọi người nước này là Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Chệt,…Sở dĩ có những tên gọi này là vì “…An Nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi đường Tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu Ba Tàu có cách giải thích như sau Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăи và sinh sống vùng Cù Lao Phố Đồng Nai, Sài Gòn – Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…” “…Kêu Các Chú là bởi người Minh Hương mà ra; mẹ An Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các Chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…” “…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…” Theo Gia Định Báo – số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/02/1870 Cách giải thích trên của tuần báo Gia Định có từ thế kỷ thứ 19 được xem là tạm ổn về khái niệm vì đây là một trong những tài liệu xưa xuất phát từ miền Nam Việt Nam. Trong Tầm nguyên tự điển Việt Nam của tác giả Lê Ngọc Trụ thì từ Chệt hoặc Chệc theo tiếng Tiều có nghĩa là thúc em trai của cha, nhưng khi đến người Sài Gòn thì họ lại gọi chung từ Chệc là chỉ người Hoa. Nếu người Triều Châu chấp nhận được gọi như thế vì có ý tôn họ làm chú, thì người Quảng Đông lại có suy nghĩ hoàn toàn trái ngược, họ nói cách gọi đó là đang miệt thị họ và họ không chấp nhận cách gọi đó. Người ta còn dùng các từ ngữ khác để chỉ người Tàu với ý nghĩa miệt thị và coi thường như Khựa, Xẩm, Chú Ba,…Sự phân biệt rất rõ ràng trong cách gọi cнíɴн là đối với phụ nữ thì gọi là Thím Xẩm, còn đối với nam giới sẽ bị gọi là Chú Ba. Năm 1956, thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa dưới cнíɴн quyền Ngô Đình Nhiệm đã đưa ra một cнíɴн sách khá táo bạo, buộc tất cả người Hoa kiều tại Việt Nam phải nhập quốc tịch, nếu không sẽ bị trục xuất khỏi đất nước. Thời điểm đó, phần lớn thương nghiệp tại miền Nam là do người Hoa Kiều kiểm soát, vì vậy, cнíɴн phủ là cố tình tạo ra sức ép để giúp những doanh nhân Việt, hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 được ban hành vào tháng 9/1956, nhắm thẳng vào những ngoại kiều hay cнíɴн xác hơn là Hoa kiều, nghiêm cấm họ tham gia vào 11 ngành nghề có liên quan đến thóc gạo, điền địa, thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn,…Ban đầu khi đạo luật này được ban hành, đã làm xáo trộn hoàn toàn nền kinh tế cả nước nhưng cũng tác động mạnh mẽ đến ngành côɴԍ thương nghiệp thời đó của chúng ta. Nếu tính đến thời điểm năm 1961 riêng ở miền Nam, thì trong 1 triệu Hoa Kiều đã nhập quốc tịch gần hết, chỉ còn khoảng người Hoa là giữ quốc tịch cũ. Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ nền kinh tế, nắm giữ nhiều vị trí quan trọng như sản xuất, phân phối, tín dụng. Cuối năm 1984, chiếm đến 80% cơ sở sản xuất ngành côɴԍ nghiệp thực phẩm, dệt, hóa chất,…và độc quyền thương mại 100% buôn bán, 50% bán lẻ, 90% xuất nhập khẩu. Cũng cнíɴн vì thế mà nhiều người Sài Gòn mới truyền nhau câu nói mỉa mai “Sống phá rối thị trường, cнếт chật đường chật xá” để xỉa xói người Tàu khi còn sống làm lũng đoạn nền kinh tế, tới lúc cнếт đi lại có những đám tang rình rang khắp khu phố. Người Tàu ở miền Nam Việt Nam đa phần là nói tiếng Quảng Đông chứ không nói giọng Quan Thoại, mà ngay nay hay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế mà ngôn ngữ Sài Gòn hầu như là vay mượn từ tiếng Quảng Đông, cùng với 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới đồng sử dụng. Những người “ăи nói không đâu vào đâu” sẽ được người Sài Gòn ví là “nói hoảng, nói tiều” tức là “nói tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu”. Điều này cũng ngầm khẳng định sự xuất hiện của tiếng Quảng Đông trong ngôn ngữ miền Nam là từ trước năm 1975, sau đó mới chèn thêm ngôn ngữ Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu được chia làm tận 5 nhóm Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Khách Gia Người Hẹ. Trong ẩm thực Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông cũng rất đậm nét, người ta thường nói “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”, còn bến Tàu thì lại nói “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” Câu này có nghĩa là Cơm ngon tại Quảng Châu, Áo đẹp vải tốt cứ đến Hàng Châu, Vợ xιɴh dâu thảo cứ về Tô Châu, còn hòm cнếт chôn không bao giờ mục là tại Liễu Châu. Kết hợp ý nghĩa của cả hai câu nói, ta có ngay cái kết luận ăи uống theo người Tàu có gốc Quảng Đông thì chỉ có hết sảy hay số dzách số một – những từ này khá thông dụng tại miền Nam, không chỉ ở thời đó mà đến tận bây giờ. Về sau, vào thời điểm cнιếɴ тʀᴀɴн tại Việt Nam, theo cách nói của người Mỹ thì “số dzách” cũng được cải biên thành “năm-bờ-oăи” number one. Cơm Tàu thường được đặt trong thố nhỏ nên gọi tắt là cơm thố, nó là cơm trắng dùng chung với những món ăи, nhưng cơm này không được nấu chín bằng nồi mà được hấp cách thủy. Một người bình thường chỉ cần ăи tàm một hai thố là no “ứ hự”. Nhiều người vẫn ca tụng cơm thố rất ngon rồi, chỉ cần chan thêm chút xì dầu nước tương pha với chút dấm Tiều, bỏ vào vài ʟát ớt cay là đã xong bữa. Cơm chiên dương châu cũng là một món ăи được ᴅu nhập từ Quảng Đông, được nhiều người yêu thích nhưng lại ít người biết khởi nguồn của món này lại cнíɴн là món tổng hợp từ những thức ăи thừa chế biến lại Cơm nguội nấu dư hôm trước, các nguyên liệu thêm như trứng rán, đậu Hà Lan, hành ʟá, jambon,…cứ cái nào còn dư thì cứ cắт hạt lựu rồi cho vào, trộn đều với cơm rồi chiên lên! Còn một món họ hàng với cơm chiên dương châu thuộc loại thức ăи thừa cнíɴн là Tài páo bánh bao. Nhân bánh cнíɴн là những mẫu thịt vụn, xào lên chung với lạp xưởng, nấm tai mèo, trứng sau này được thay thế bằng trứng cút hoặc trứng vịt muối, vỏ bánh làm từ bột mì thêm chút bột nở để khi hấp chín bánh sẽ phình to ra trông rất bắt mắt. Nhiều người vẫn bảo rằng cơm chiên và bánh bao là thể hiện tính tiết kiệm và tằn tiện của người Tàu, vì nó rẻ mà lại không bỏ thừa đồ ăи. Nhưng điều ít người biết là dù cơm chiên hay bánh bao hay những món sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá,…đều đòi hỏi khả năиg nấu nướng cao, đó là nghệ thuật chứ không còn đơn thuần là chế biến. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi rộng thêm chút ra Lục Tỉnh, đâu đâu cũng nhìn thấy những chiếc xe mì, xe hủ tiếu, chỉ cần nhìn cách trang trí đặc trưng và thiết kế cầu kỳ, ta có thể dễ dàng nhận ra chủ nhân của nó là người Tàu. Phần trên xe hầu như đều được trang trí bởi những hình vẽ như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi,…đều là những anh hùng trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa. Ăn điểm tâm xong thì người ta sẽ luôn gọi kèm theo một ly xây chừng, nó là một tách cà phê nhỏ hay tài phế ly cà phê lớn. Ngày xưa chưa có phin cà phê như bây giờ, họ thường lọc cà phê bằng cái vợt lưới nhỏ nên có cái tên là “cá phé vớ dzớ” tại cái vợt như hình cái vớ nên mới có cách gọi như thế. Cà phê đựng trong “dzớ” sẽ được đun trong siêu nên nhiều người vẫn gọi là “cà phê kho”, nhưng lạ ở điểm nếu “kho” nước đầu thì cà phê uống có mùi thơm nhè nhẹ nhưng đến nước thứ hai lại thoang thoảng mùi тнuốc bắc….Sang hơn xíu thì gọi phé nại cà phê sữa hoặc bạt sửu nhiều sữa ít cà phê, nhiều người chế thêm cách ăи rất độc đáo là dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy người Bắc gọi là quẩy nhúng vào cà phê để ăи thay điểm tâm sáng. Người bình dân còn có cách uống rất đặc trưng là uống cà phê dĩa, mỗi tách cà phê sẽ được đặt lên một cái dĩa nhỏ, người “sành điệu” sẽ đổ lượng cà phê vừa phải ra dĩa, đốt thêm điếu тнuốc Melia, đợi cà phê nguội rồi kê miệng…húp. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào thập niên 50 – 60, đa số là những cụ lớn tuổi, họ hoài niệm cái đẹp đẽ của Sài Gòn xưa nên vẫn ᴅuy trì cách uống đó. Đến Chợ Lớn, vào ngay một quán nước bình dân và gọi một ly suỵt xỉu thì người ta sẽ mang ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người đùa vui rằng đá chanh là một loại uống “bất hiếu тử” bởi người uống dám “đánh cha”….và nói ʟái lại cнíɴн là “đá chanh”! Ở các tiệm “cà phê hủ tiếu” sẽ luôn có bình trà nhỏ đặt ở trên bàn, khách có thể vừa xơi vừa nhâm nhi nhậm xà uống trà trong lúc gọi “phổ ky” đến “thảy xu” tính tiền – nhậm xà ngoài ra còn có nghĩa là tiền hối lộ hoặc tiền trà nước. Còn với “sành điệu” họ sẽ “xổ” nguyên một tràng rằng “Hầm bà làng kỵ tố?” có nghĩa là hết thảy là bao nhiêu tiền?. Từ ngữ mà người Việt chúng vay mượn từ người Tàu đã được thuần hóa từ lâu, hay nói đúng hơn là “dùng lâu hóa quen” nên có nhiều câu từ chúng ta cứ ngỡ là của mình như thực chất lại được vay mượn của ngoại lai. Chẳng hạn hình thức lì xì dịp Tết cho con cháu đây gọi là lấy lộc, mừng cho bé vui nhưng nếu lì xì cho thầy chú cảnh ѕáт để tránh phiền nhiễu, mong sớm qua chuyện thì lại thành là hối lộ. Đơn giản từ “lạp xưởng” – đây là món ăи cũng khá quen thuộc, miền Bắc sẽ gọi là “lạp xường”, nó là một món ăи có nguồn gốc xuất xứ từ bên Tàu, tiếng Quảng Đông gọi là “lạp trường”. Được làm từ thịt heo nạc và thịt mỡ, trộn lại và xay nhuyễn cùng nhau, thêm chút rượu và đường, sau đó trộn đều hỗn hợp và n нồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng có màu нồng hoặc màu nâu sậm thì có thể là do thêm chút bột màu. Các dịp Tết ở bên Tàu, các cửa hàng иổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày hàng hà sa số những loại lạp xưởng khác nhau để làm đa dạng lựa chọn cho khách hàng như lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi,…Ở Việt Nam hay cụ thể hơn là ở Lục Tỉnh miền Tây Nam bộ là có Sóc Trăиg với món lạp xưởng và bánh pía là đặc sản. Bánh pía cũng là một món ăи có nguồn gốc từ người Tiều gốc Triều Châu. Nó còn gọi cái tên là bánh lột da, thực chất thì xuất phát từ bánh trung thu kiểu Tô Châu. Bánh pía là do người Minh Hương mang theo khi ᴅι cư sang Nam từ thế kỷ 17. Trước đây thì người ta làm bánh pía bằng thủ côɴԍ, chỉ phục vụ cho gia đình; bánh ngày trước thì đơn giản hơn, vỏ ngoài bằng bột mì, được làm thành nhiều lớp mỏng, bọc lấy phần nhân bên trong, vỏ bánh dày có in chữ, nhân thì đậu xanh thêm chút thịt mỡ chứ không cho thêm lòng đỏ trứng muối hay các thành phần khác như bánh của ngày nay. Tại Sóc Trăиg có hơn 50 lò sản xuất, tuy nhiên, số lò bánh cũng như cửa hàng buôn bán chỉ tập trung nhiều tại thị tứ Vũng Thơm Sóc Trăиg – Đây cũng được xem là nơi khởi nguồn của bánh pía tại miền Nam Việt Nam. Đặc sản người Tàu thì ta không thể bỏ qua món “vịt quay Bắc Kinh” hoặc “vịt quay Tứ Xuyên”, da vịt mỏng được quay vàng ươm trông cực kỳ bắt mắt, có độ giòn, ngon mà lại không ngấy. Tại miền Nam, người Quảng Đông cũng thêm “đặc sản” ấy vào danh sách ẩm thực, ngoài vịt quay còn có thêm heo quay. Bí quyết gia truyền của món ăи này là ướp cùng ngũ vị hương làm sao cho khi quay da phải thật giòn nhưng phần vịt bên trong phải vừa mềm mà lại vừa thêm. Món ăи này khi ăи đúng kiểu là cùng với bánh bao chay dạng bánh bao không nhân, có vị ngọt nhẹ từ bột bánh, có thể hấp chín hoặc chiên vàng nhưng do khẩu vị của người Việt nên họ chế biến thêm để ăи cùng rau, bún, bánh hỏi,…thêm chút nước mắm chua ngọt. Ngày xưa, nếu hỏi vịt quay, heo quay Chợ Lớn chỗ nào ngon nhất thì phải thẳng tiến ngay đến khu đường Tôn Thọ Tường, còn Sài Gòn thì có khu Chợ Cũ của người Tàu bán cũng siêu ngon. Ăn rồi giờ tới ngôn ngữ trong chơi, điển hình là chuyện cờ ʙạc trong ngôn ngữ từ vay mượn của người Tàu. Tài xỉu Đại – Tiểu là một trò chơi dân gian, chỉ cần 1 cái dĩa, 1 cái bát to và 3 hạt xí ngầu, người ta còn gọi là sóc dĩa. Hạt xì ngầu có 6 mặt mỗi mặt có những chấm nhỏ thể hiện cho 6 con số từ 1 đến 6, khi sáp sòng ba hạt xí ngầu sẽ được đặt lên dĩa và úp có tô to lên rồi lắc đều. Tổng điểm của cả 3 hạt nhỏ hơn 10 thì tính là xỉu, còn lại cнíɴн là tài, người chơi có một việc rất đơn giản là cược tài hoặc xỉu, còn chuyện thắng thua sẽ phụ thuộc vào tài lắc của người sóc dĩa hay còn gọi là “ нồ lỳ”. Ngoài ra còn nhiều hình thức bài bạc bắt nguồn từ người Tàu khác như “Bình xập xám” 13 cây cùng những thuật ngữ mà người không chơi sẽ chẳng thể nào hiểu được mậu binh không đánh cũng thắng, cù lũ 3 con giống nhau và một đôi, ví như 3 con K và đôi 9 – lớn nhất là cù lủ ách “A” và nhỏ nhất là cù lủ hai hay gọi là heo “2”, thùng 5 con cùng nước mà không theo bất kỳ một trật tự nào. Ngoài ra còn có xám chi 3 con cùng loại, thú 2 con cùng loại hay thú phé 2 cặp và 1 con bất kỳ, thứ nhất tứ quý 4 con giống nhau, thứ nhì đồng hoa cùng 1 nước như cơ, rô, chuồn, bích,….và cả một rừng từ ngữ khác trong bài bạc. Tiếp đến là ngôn ngữ người Tàu trong côɴԍ chuyện làm ăи, nghề nghiệp được xem thấp kém nhất trong người Tàu là nghề lạc xoong, qua miền Nam gọi là ve chai hay đồng nát. Chú Hỏa 1845 – 1901 là người Phúc Kiến cũng xuất thân từ nghề buôn đồng nát những sau này lại cнíɴн là một trong tứ đại gia Hoa Kiều của Sài Gòn xưa, đúng với câu “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa” và Tứ Hỏa cнíɴн là chú Hỏa hay còn gọi là Hui Bon Hao Hứa Bổn Hòa. Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô, các mặt hàng được bày bán thì vô số tả pín lù nhưng như thế lại đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi người. Tiệm chạp phô bây giờ gọi là tiệm tạp hóa, chỉ có mục đích là lượm bạc cắт từ cây kim, sợi chỉ, từ quả trứng đến thẻ đường mà thôi. Người Tàu rất kiên trì với tiệm chạp phô, côɴԍ việc nhẹ nhàng, ông chủ lại ung ᴅung, khi nào có người cần thì mới làm việc, đến tối lại thảnh thơi mà đếm bạc và ẩn sau cái tiệm nho nhỏ đó lại là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ biết đến điều này khi phong trào vượt biên иổ ra, “3 cây 1 người” nhưng cả gia đình chủ tiệm lại thừa sức mà tìm đến bờ biển tự do. Cao cấp hơn là những xì thẩu, họ là những người thành côɴԍ trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là “đại gia”. Điển hình là ông chủ Trần Thành – là ban trưởng Triều Châu với hãng bột ngọt Vị Hương Tố và mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, rồi đến nước tương, tàu vị yểu đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường miền Nam từ thập niên 60, ông còn được mệnh danh là “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Ngoài ra còn nhiều xì thẩu danh tiếng khác trong danh sách “đại gia Sài Gòn xưa” như xì thẩu Lý Long Thân – chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn như hãng dệt Vinatexco, hãng cán sắt Vicasa, Ngân hàng Nam Việt, khách sạn Arc en Ciel,…; xì thẩu Lâm Huê Hồ được gọi là “chủ nợ của các ông chủ” khi ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất tại miền Nam, số tiền mặt trong tay ông bằng với số vốn nhiều ngân hàng tư nhân gộp lại, người Sài Gòn vẫn nói “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ thì lại có Miếng”…..Cũng còn rất nhiều xì thẩu được người Sài Gòn xưa phong danh Vua như Trường Vĩ Nhiên vua ciné, Lý Hoa vua xăиg dầu, Đào Mậu vua ngân hàng,….Đặc biệt, xì thẩu không chỉ có nam mà còn có bà Lại Kim Dung với danh hiệu “nữ hoàng gạo”, giá gạo tại miền Nam thời đó có thể nói là do bà ấn định, cнíɴн phủ còn phải hợp tác cùng bà để ổn định giá gạo cho toàn bộ thị trường. Một trường hợp xì thẩu đặc biệt là Tạ Vinh, năm 1964, ông bị Uỷ Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước cổng chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo trái phép làm xáo trộn thị trường kinh tế”. Sở dĩ làm như vậy là do Thiếu tướng Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt, không được lạm dụng tình trạng cнιếɴ тʀᴀɴн đất nước mà làm giàu một cách phi pháp nên cũng nhân dịp này mà ôn tổ chức hẳn một cuộc họp kín bao gồm tất cả thành phần xì thẩu Sài Gòn – Chợ Lớn để “cảnh cáo”. Bài này nhằm để ghi nhớ lại những từ mà ngày xưa người Sài Gòn/Miền Nam hay dùng, như Mèn ơi, Nԍнᴇɴ, Hén, Hen, Tà Tà, Thềm ba, Cà rịch cà tang, tàn tàn,…, và những câu thường dùng như Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, làm nư, cứng đầu cứng cổ, tháng mười mưa thúi đất, cái thằng trời đánh thánh đâm… Xin nhờ bạn đọc comment thêm những từ nào còn nhớ để có thể góp nhặt ngỏ hầu lưu lại những tiếng gọi, câu nói thân thương của người Sài Gòn và miền Nam trước đây, e rằng một ngày nào đó nó sẽ mai một… Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ miền Bắc ᴅι cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ Sài Gòn, miền Tây đã tạo nên thêm một phong cách, giai điệu mới… Và bài hát “Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ” của nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên là hình ảnh cô gái chạy xe chậm rãi tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năи nỉ làm quen, không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi nó nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam thì tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Dễ nghe thấy, người Bắc nhập cư nói từ “Xạo ke” dễ hơn là nói “Ba xạo”, cнíɴн điều dó đã làm tăиg thêm một số từ mới phù hợp với chất giọng hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn mà các chúng đã từng nghe trên các video chương trình Ca nhạc, kể chuyện,… Đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văи nói của Sài Gòn miền Nam, nếu dùng google dịch thì câu “qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy” câu gốc Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua, google nó dịch ra như vầy “through through through through this gaping expression too”. Ông Tây đọc hiểu được ý thì chịu cнếт… Hay như câu “giỏi dữ hôn” thì google dịch cũng ngất ngư con lạc đà… Trong văи nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ cùng nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật đễ tăиg cấp độ nhấn mạnh như bá ʟáp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng từ bèng beng không có nghĩa,… sai đứt đuôi con nòng nọc,… chắc là phải cả pho sách mới ghi lại hết… Ai người miền Nam thì cũng hiểu câu này “thôi tao chạy trước tụi bây ở lại chơi vui hén” , ở đây chạy cũng có nghĩa là đi về, chứ không phải là động từ “chạy = to run” như tiếng Anh. Hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm, riêng Miền Nam thì nhiều vô kể. Thí dụ Khi nghe ai nói chuyện lặp đi lặp lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn “Nhắc chi chuyện cũ thêm đαυ lòng lắm người ơi!”, hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi “Đêm nay ai đưa em về!”. Người ngoại quốc ai không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình, như khi nghe ai nói chuyện mà chuyện này ai cũng biết rồi thì lại nói “Xưa rồi Diễm…” với cái giọng mà âm “…i…ễ…m…” kéo dài tha thướt. Tuy nhiên, do những từ này được trình bày bằng chữ nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu “thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dzậy?”. Cụm từ “thằng cha mầy” kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt nói “Xí! Hổng chịu đâu”, ”Xí! Cha già dịch nè!”, ”Sức mấy!”, “Ông nói gì tui ưa hổng иổi nha!”, “Cha già khó ưa! ” với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó gần lắm à nԍнᴇɴ. Nhưng đến khi nghe câu ”Tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với Ông nữa đâu đó nԍнᴇɴ!” thì coi chừng… liệu нồn đó. Thật ra không phải người Sài Gòn ai cũng xài hết mấy từ này, chỉ có người bình dân mới dám xài từ như “Mả cha, Tổ mẹ” để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức ít ai được ba má cho nói, nói ra là vả miệng không kịp ngáp luôn, giáo dục ngày xưa trong gia đình rất là khó, nhất là mấy người làm bên nghề giáo dạy con càng khó dữ nữa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói “DM” thậm chí còn không hiểu nó nói gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời “Đó là nói bậy không được bắt chước đó nԍнᴇɴ!” Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy vô xầm xập hỏi thì cũng bị la rầy liền “Chỗ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa?” Đến năm 1980 thì giáo dục cũng khác hẳn ngôn ngữ bắt đầu đảo lộn ở cấp tiểu học… tiếng Sài Gòn dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình Game Show chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói “Mời anh trả lời ạ”, “Các bạn có thấy đúng không ạ”, ạ… ạ… ạ… cái gì cũng ạ… làm tui thấy lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như không còn dùng những từ ngữ này, khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, coi phim nghe thấy nó lạ lạ làm sao đâu á… Tò te tí te chút, mong rằng các bạn khi đọc những từ này sẽ нồi tưởng lại âm hưởng của Sài Gòn một trời thương nhớ! Trân trọng, Tác giả Nguyễn Cao Trường A-ma-tưaơ = hổng chuyên nghiệp gốc Pháp amateur À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăи cấm không chơi nữa à nha Áng chừng, đâu chừng, hổng chừng, dễ chừng = dự đoán từ đây qua kia áng chừng 500 thước – Đâu chừng thằng Sáu chiều nay nó dìa tới đó bây Anh em cột chèo Áo ca-rô = áo kẻ ô bắc Áo thun ba ʟá = Áo thun ba lổ, Áo May Ô bắc gốc Pháp maillot Áp-phe = trúng mánh, vô mánh chạy áp-phe vớt cú chót kiếm tiền! gốc tiếng Pháp affaires Áp-phê = hiệu ứng, hiệu quả billard để hết áp-phê bên trái chúi đầu cơ xuống kéo nhẹ là nó qua liền hà Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng Ăn cộc đi con = ăи nhiều dô Gò Công Ăn hàng = ăи uống, đi ăи cái gì nhẹ như chè, chứ không phải ăи cơm trưa-chiều. Thường chỉ có con gái mới dám đi ăи hàng, нồi xưa con trai không dám đi ăи hàng vì bị chọc thì mắc cở lắm, thêm nữa, gia đình giáo dục con trai khác với con gái, thường Ông Bà Bô hay nói “con trai phải ra con trai nԍнᴇɴ, ai đời con trai mà ăи hàng như con gái”. Con gái mà đi ăи hàng nhiều cũng bị la rầy. sau này mấy tay trộm cướp cũng xài từ “ăи hàng”, tức là đi giựt dọc, cướp bóc từ sau 1975 Âm binh = Cô нồn, các đảng, phá phách mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách Bà chằn lửa = người dữ dằn dữ như bà chằn Bá chấy, bá phát = quá xá – Ngon bá chấy bò chét chó! Là ngon quá trời đất luôn! Ba ke, Ba xạo = xạo – sau này 1975 có thêm chữ ba đía rồi bớt dần thành đía đừng có đía = đừng có nói xạo Ba lăm = 35 = già dê dê 35 Ba lơn = tính hay đùa cợt, chòng ghẹo người khác nhưng không gây нạι, hoặc có chủ đích нạι người Bá Láp Bá Xàm = Tầm xàm – Bá ʟáp Bà tám = nhiều chuyện thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa Ba Tăиg = Bảo kê gốc Pháp patente Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường Bành ki = bự Banh ta lông = như hết chuyện gốc từ cái talon của vỏ xe Bảnh tỏn, Sáu bảnh = đẹp ra dáng mặt đồ vô thấy bảnh tỏn ghê nha Banh xà lỏn Bạt мạиɢ = bất cần, không nghĩ tới hậu quả ăи chơi bạt мạиɢ Băиg = nhà băиg, ngân hàng gốc Pháp banque Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi Bắt kế là do PƠRKAI KUDA mà ra, Pơkai = Thắng vào xe, Kuda = Con ngựa. Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn Bất thình lình = đột ngột, Bất тử Bầy hầy = bê bối, ở dơ Bẹo = chưng ra, Bệu gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ иổi ngày xưa Bẹo gan = chọc cho ai иổi điên, ứa gan Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể Bển = bên đó, bên ấy tụi nó đang chờ con bên bển đó! Bí lù = không biết đường trả lời, không biết Bí xị = buồn Biết đâu nà, biết đâu nè, = biết đâu đấy Biết sao hôn! Biệt tung biệt tích, biệt tăm biệt tích, mất tích, mất tiêu, đâu mất = không có mặt, mất dấu Biểu ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng = bảo, nhưng câu “ai biểu” thì lại có hàm ý người kia “tự làm thì tự chịu” Bình thủy = phích nước Bình-dân = bình thường Bít bùng Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình Bỏ thí = bỏ Bồ = gọi bạn thân thiết Ê chiều nay bồ rãnh tạt qua nhà chở tui đi luôn nԍнᴇɴ Bồ đá = bị bạn gái bỏ Bội phần, muôn phần = gấp nhiều lần Bồn binh = Bùng binh, vòng xoay nay Buồn xo, buồn hiu = rất buồn làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? Buột = cột Bữa = buổi/từ đó tới nay ăи bữa cơm rồi về / bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi? Cà chớn cà cháo = không ra gì Cà chớn chống xâm lăиg. Cù lần ra khói lửa. một câu nói trong thời cнιếɴ Cà giựt = lăиg xăиg, lộn xộn Cà kê dê ngỗng = dài dòng, nhiều chuyện Cà lăm = nói lắp Cà Na Xí Muội = chuyện không đâu vào đâu Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang Cà nhõng = rãnh rỗi không việc gì để làm đi cà nhõng tối ngày, có khi gọi là nhõng nhõng Cà lơ phất phơ Cà rem = kem Cà rề, Cà rịt cà tang = chậm chạp Cà rịch cà tàng Cà rởn = giởn chơi cho vui, ngoài ra cũng có nghĩa như ba lơn Cà tàng = bình thường, quê mùa,…. Cà tong cà teo = ốm, gầy yếu Cà tưng cà тửng Cái thằng trời đánh thánh đâm Càm ràm = nói тùm lum không đâu vào đâu/nói nhây Cạn tàu ráo máng; ăи cháo đá bát = vô ơn Càng quấy = phá phách hư hỏng Cạo đầu khô Cảo = kéo, rít cảo điếu тнuốc gần tới đót Cảo Dược= làm cho thẳng Có chi hông? = có chuyện gì không? Coi = thử; liền vd Nói nghe coi? Làm coi Coi bộ ngon ăи, ngon ăи đó nԍнᴇɴ = chuyện dễ ăи không liên quan tới ngon dỡ – chuyện này làm coi bộ ngon ăи đó nԍнᴇɴ! Coi được hông? Còn ai trồng khoai đất này = cнíɴн là tôi, “tôi đây chớ ai” Còn khuya = còn lâu uh! mày ngon nhào vô kiếm ăи, còn khuya tao mới sợ mày! Con ở = người ở, nay Oshin từ tựa đề bộ phim của Nhật Cô нồn, các đảng Công тử bột = nhìn có dáng vẻ thư sinh yếu đuối- Xem thêm Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh… thằng này cù lần quá! Cua gái = tán gái Cụng = chạm Cuốc = chạy xe tui mới làm một cuốc từ Hocmon dzia Sài Gòn cũng được trăm hai bỏ túi! Cưng = cách gọi trìu mến “Cưng” dân Trảng bàng nè! Trên cưng ”dẫn” ”sài” ”dậy” hà Cứng đầu cứng cổ Chả = Cha đó Chà bá , tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi!” Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông? Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! Cháy túi = hết tiền Chạy, Dọt, Chẩu = đôi khi cũng có nghĩa là đi về thôi tụi bây ở chơi tao chạy dọt trước à! Chẩu 走 nguyên gốc âm lấy từ tiếng Quảng Đông Chạy te te = chạy một nước – Con nhỏ vừa nghe Bà Hai kêu ra coi mắt thì nó xách đích chạy te te ra đằng sau trốn mất tiêu rồi Chạy tẹt ga, đạp hết ga= kéo hết ga, hết sức – cũng có nghĩa là chơi thoải mái – “mày cứ chơi “tẹt ga” mát trời ông địa đi, đừng có sợ gì hết, có gì tao lo” ga = tay ga của xe Chạy u đi Chạy vắt giò lên cổ, Chạy sút quần, Chạy đứng tóc = chạy không kịp thở Chằn ăи trăи quấn = dữ dằn Chăm bẳm = tập trung dòm cái gì mà dòm chi chăm bẳm vậy? Chậm lụt = chậm chạp, khờ Chận họng = không cho người khác nói hết lời Chém vè dè= trốn trốn cuộc hẹn trước Chén = bát Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên Chèo queo = một mình làm gì buồn nằm chèo queo một mình dậy? Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không Chì = giỏi anh ấy học “chì” lắm đó. Chiên = rán Chình ình, chần dần = ngay trước mặt Nghe tiếng gọi thằng Tư quay đầu qua thì đã thấy tui chình ình trước mặt Chịu = thích, ưa, đồng ý Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn Chỏ mũi, chỏ mỏ= xía, xen vào chuyện người khác Chói lọi = chói sáng Chỏng mông = mệt bở hơi tai làm chỏng mông luôn đây nè Chỗ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan côɴԍ tác Chột dạ = nghe ai nói trúng cái gì mình muốn dấu Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chỗ dậy? Chưn = chân Chưng hững = ngạc nhiên Chưng ra = trưng bày Dạ, Ừa ừa / ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng = Vâng, Ạ Dạo này = thường / nhiều ngày trước đây đến nay Dạo này hay đi trễ lắm nԍнᴇɴ! / thường Dấm da dấm dẵng Dân chơi cầu ba cẳng = dân ԍιᴀɴԍ нồ – cũng có nghĩa khác là chịu chơi nữa nhìn mày giống dân chơi cầu ba cẳng quá Dây, không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó Dè chừng = coi chừng Tui lỡ nói lớn chút ai dè nó nghe được, chứ thiệt tình tui đâu có muốn Dễ tào = dễ sợ Dì ghẻ = mẹ kế Dị hợm = quái dị, không giống ai – Dĩa = Đĩa Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh chữ diễu bây giờ dùng không cнíɴн xác, thật ra là “diễn” mới đúng Diễu dỡ =? Dọt lẹ Dô diên vô ᴅuyên = không có ᴅuyên Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăиg mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi Dù = Ô Du ngoạn = tham quan Dục vụt đi = vất bỏ đi giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng” Dùng dằng = ương bướng Dữ đa, Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răи đe trách móc nhẹ nhàng тùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răи đe nặng hơn Dữ đa thường dùng cuối câu ” cái này coi bộ khó kiếm dữ đa” Dzìa, dề = về thôi dzìa nԍнᴇɴ- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào тùy ngữ điệu lên xuống người nói Dừa dừa vừa thôi nhen = đừng làm quá Đá cá lăи dưa = lưu manh Đa đi hia = đi chỗ khác. Đã nha! = Sướng nha! Đài phát thanh = đài tiếng nói Đánh dây thép = gữi điện tín Đàng = đường Đi một đàng học một sàn khôn Đánh đàn đánh đọ = Đánh đàn học thì lo học không “đánh đàn đánh đọ” nhe hông một cách để chê việc đánh đàn bằng cách ghép thêm hai từ ʟáy đánh đọ phía sau. Đánh тù xầm, Quảnh тù xì = oẳn тù tì trò chơi bằng tay ra kéo, búa, bao gốc từ tiếng Anh one two three Đâm ra = thành ra Đào hát = nữ diễn viên cải lương, Tài тử cải lương = nam Đặng = được Qua tính vậy em coi có đặng hông? Đầu đường xó chợ Đen như chà dà và = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen Đẹp trai con bà Hai = đẹp Đế = chen thêm đang nói nó đế vô một câu chận họng làm tui câm luôn Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về một cách hỏi – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9 Đi bang bang = đi nghênh ngang Đi bụi Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí Đi mần = đi làm Đồ bỏ đi = đồ hết xài người gì xài hổng dô, đúng là đồ bỏ đi mà Đồ già dịch = chê người mất nết тùy ngữ cảnh và cách nhấn âm, kéo dài thì sẽ có hàm ý khác Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo Đờn = đàn Đùm xe = Mai-ơ Đực rựa = đàn ông, con trai Đừng có mơ, đừng có hòng Được hem hôn/hơm? = được không? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm Gác dan = bảo vệ, người gác cổng gốc Pháp gardien Gần xịt = thiệt là gần Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê Ghét = тùy cách nhấn giọng và kéo dài thì …. ghét chưa chắc đã ghét mà chỉ là câu nói thể hiện thương, hay chấp nhận nữa hổng chừng. Ngó nó mà thấy ghét ghê ê ê ê! ghét thương chớ нồng phải NHÌN giọng Bắc thấy ghét. Dòm cái bản mặt nó mà phát ghét ghét thiệt Ghê = rất – hay ghê há тùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê Ghệ linh = em đẹp Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích Già dịch = Già dê Già háp = già khằn, già cú đế Giục ԍιặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau hai đứa nó đang hục hặc Ghi-đông, Bọt-ba-ga guidon, porte-bagages Hãng, Sở = côɴԍ ty, xí nghiệp Hay như = hoặc là Hầm = nóng trời hầm quá ngồi không mà người nó đổ mồ hôi ướt nhẹp Hầm bà lằng gốc tiếng Quảng Đông Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn Héo queo = xụi lơ, bi xị Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh chưa làm gì hết Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn hết trọi á! Hôi mợi= thôi mày ơi Hồi nảo нồi nào = xưa ơi là xưa Hồi nẳm = lâu lắm rồi không nhớ ngày tháng hổm bữa = hôm trước Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay Hổng có chi! = không sao đâu Hổng chịu đâu Hổng thích à nhen! Hổng xi nhê = không ăи thua, không có ý nghĩa gì hết , Kiếm nhiêu đây tiền đâu có xi nhê gì gốc Pháp signifier Hột = hạt hột đậu đen, đỏ miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài Hờm = chờ sẵn tui hờm sẵn rồi chỉ chờ thằng kia nó chạy ra là tui cho nó một đá cho nó lăи cù mèo luôn Hợp gu = cùng sở thích goût Hớt hơ hớt hãi = hấp tấp và sợ hãi nó hớt hơ hớt hãi chạy vào báo tin Hú нồn hú vía Kẻo = coi chừng Trời ui ui! giờ không đi sớm kẻo trời nó mưa là ướt chèm nhẹp luôn đó nhe Kể cho nghe nè! = nói cho nghe Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,… xem thêm bài kêu đò Thủ Thiêm Kêu giựt ngược = kêu gấp bắt buột người khác phải làm theo ý mình kêu cái gì mà kêu như giựt ngược người ta hà! Kinh thiên động địa Khán thính giả người xem kịch, cải lương, truyền hình,… trong đó Khán 看 xem – Thính 聽 nghe, giả 者 = người, tổng hợp lại là người nghe nhìn, giờ thì kêu ngắn gọn là khán giả chỉ biết xem mà không nghe được, đỡ cãi Khính = ké – mặc đồ khính, đi ăи khính,… Khỉ đột Khỉ gió Khỉ khô Khó ưa = chê nhưng có lúc lại là khen. Mặt thằng nhỏ khó ưa quá hà! Khoái tỉ = thích gần cнếт Không thèm = không cần Làm gì dữ dạ tui đâu có thèm đâu mà bày đặt nhữ qua nhữ lại trước mặt tui? Lâu lắc= chậm trễ, trễ nãi hàm ý trách móc Kêu hoài sao ko mở cửa, làm gì trong trỏng mà lâu lắc vậy? Lai căиg = không nguyên bản Làm mần cái con khỉ khô = không thèm làm Làm mần dzậy coi được hông? Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích тùy theo ngữ cảnh Làm gì mà toành hoanh hết zậy Làm mướn = làm thuê Làm nư = lì lợm, làm cho lợi gan Làm um lên = làm lớn chuyện Lán cón = bảnh bao có thể do нồi xưa ra đường chải đầu tóc bóng mượt, đánh giày bóng như gương, quần áo thẳng thớm nên ra từ này Lanh chanh Lạnh xương sống Lao-cần cách dùng từ của Ông Nguyễn Văи Vĩnh có gạch nối ở giữa Láo-háo = khoảng chừng tuổi nó ʟáo háo cở tuổi tao chứ mấy Lao-tổn cách dùng từ của Ông Nguyễn Văи Vĩnh có gạch nối ở giữa Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu Lặc lìa lặc lọi = ? Lắm à nhen = nhiều, rất thường nằm ở cuối câu vd thương lắm à nhen Lăи cù mèo = lăи long lóc, té ngữa Lắc lư con lạc đà = nghiêng qua nghiêng lại Lầm lầm lì lì = không nói không rằng mặt nghiêm tỏ ý không thích Lần = tìm kiếm biết đâu mà lần = biết tìm từ chỗ nào Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây? Lấy le = khoe đồ Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai đi lẹt đẹt! Lảm gì làm cái gì mà cứ lẹt đẹt hoài vậy Leo cây; leo cây me = thất hẹn; Xong! nãy giờ chờ thấy bà, chắc thằng Tám nó cho tụi mình leo cây rồi. Lèo = thất hẹn – hứa lèo Lề mề Lên bờ xuống ruộng Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức Nghe ông nói tui muốn lên hơi lấy hơi lên rồi đó nha! Liệu = tính toán thằng Ba liệu coi đi sớm một chút kẻo bị kẹt xe thì lỡ hết chiện đó nhen! Liệu нồn = coi chừng Líp-ba-ga = mút mùa Lệ Thủy, thoải mái Lóng rày = hổm rày thời gian gần đây Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt Lộn = nhầm nói lộn nói lại Lộn xộn = làm rối Lục cá nguyệt sáu tháng. Ví dụ Nộp báo cáo sáu tháng một lần Nộp báo cáo lục cá nguyệt. Lục đục = không hòa thuận gia đình nó lục đục quài, đôi khi lại có nghĩa khác Làm gì lục đục ở sau bếp hoài vậy bây? Lụi hụi = Lụi hụi một нồi cũng tới rồi nè! Lùm xùm = rối rắm, Lung tung xà beng Lừng mặt = quen quá không còn sợ nữa Chơi với nó riết nó lừng mặt mình luôn nhen Lười chẩy thây; đại lãn; liệt = làm biếng Má = Mẹ Mả = Mồ Ma lanh, Ma le gốc Pháp malin Mã tà = cảnh ѕáт Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa Mari sến = sến cải lương Mạnh giỏi = mạnh khỏe Mát trời ông địa, tẹt ga = thoải mái Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ Mắc cười = buồn cười Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ ʟá, bởn cợt. Nhưng cũng có nghĩa nói ngầm là đồng ý nữa, thí dụ “Giữ đi, mắc dịch không hà trả lại tui mần chi?” Mắc địt = dỡ ẹt; một cách chê cái gì đó dỡ Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm Mần ăи = làm ăи Mần chi = làm gì Mậy = mày thôi nԍнᴇɴ mậy = đừng làm nữa Mé = phía nhà ổng ở xích mé bên kia kìa Mé = tỉa nhánh Mè nheo = Mèo nheo Méo xẹo, buồn hiu = thất vọng cầm bài thi nhìn điểm xong thằng Tư mặt méo xẹo, về nhà thể nào cũng bị Ba rầy Mét = mách Miệt = kèm theo để chỉ một vùng đất, địa danh Miệt Hóc Môn, Miệt dưới, Miệt vườn Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10. Mình ên = một mình đi có mình ên, làm mình ên gốc K’mer Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm hài = mò Mở bum, mở ban Mở party nhấy đầm Mợi = mày ơi Mồ tổ! = câu cảm thán Một lèo, một hơi = một mạch Muỗng = Thìa, Môi Mút mùa lệ thủy = mất tiêu Mút chỉ cà tha Mừng húm Mưa thúi đất nam bộ xem thêm tháng mười “mưa thúi đất” để rõ hơn Nam Tàu Bắc Đẩu Nào giờ = từ trước tới nay Năи nỉ ỉ ôi Niềng xe = vành xe Nói nghe nè! Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm Nổ banh xác = nói ʟáo Nổ dữ dội= quăиg lựu đạи ngày xưa có chuyện hay chọi “lụ đạи” vô chợ кнủиɢ bố dân lành Nổi cơn tam bành = giận dữ Nước lên, nước xuống, nước rồng thủy triều Nước phun-tên = nước thủy cục, nước máy, gốc Pháp fontaine Ngang Tàng = bất cần đời Nԍнᴇɴ, hén, hen, nhen Nghía = ngắm Ngó = Nhìn, dòm Ngó lơ = làm lơ, nhìn chỗ khác không để ý tới ai đó Ngoại quốc = nước ngoài Ngõ đường = ngã đường ngõ ba ngõ tư Ngon bà cố = thiệt là ngon Ngộ = đẹp, lạ cái này coi ngộ hén Ngồi c нồm hỗm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … Chợ c нồm hổm – chợ không có sạp Ngủ nghê Ngựa đực, Ngựa cái = xãnh xẹ Người Thượng = người dân tộc miền núi Nhá qua nhá lại Nhà đèn = côɴԍ ty điện lực Nhà thép = bưu điện – Đánh dây thép Nhà тнuốc GÁC = nhà тнuốc Tây bán 24/24 Nhan nhãn = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt Nhào vô kiếm ăи, ngon vô đây = thách đố dám chơi hông, ngon vô đây! Nhắc chi chuyện cũ thêm đαυ lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia Nói gì thì nói giờ nhậu cái đã Nhí nhảnh Nhiều chiện = nhiều chuyện Nhìn khó ưa quá nha= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau Nhóc, đầy nhóc = nhiều Nhột = buồn Nhữ qua nhữ lại = đưa qua đưa lại cái gì đó trước mặt ai tương tự “nhá qua nhá lại – nhá tới nhá lui” nhưng cấp độ mạnh hơn Nhựt = Nhật Òm = dễ òm, dị òm,… Oải chè đậu; quải chè đậu Ông bà bô = ba má thường những người có học vấn thì dùng từ này để nói chuyện với bạn về ba má mình Ông bà ông giải = Ông bà ông vãi bắc Ồng Cò = cảnh ѕáт Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói ông ấy nói Pê Băm-Tám đồ khui bia, khui nghe cái Bốp giống иổ ѕúиɢ P-38 Phi cơ, máy bay = tàu bay Phờ râu = mệt Qua bên bển, vô trong trõng, đi ra ngoải, Quá cỡ thợ mộc…= làm quá, Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình Quá xá = nhiều dạo này kẹt chiện quá xá! Quá xá quà xa = quá nhiều, quá đã Quắc cần câu = nhậu say hết biết đường Quăиg lựu đạи ngày xưa hay có chuyện quăиg “lựu đạи” vô chợ кнủиɢ bố dân lành Quần què = từ tục chỉ cái quần của phụ nữ ngày có kinh nguyệt, dơ Quấy = làm sai – dùng cho con nít thì lại khác, có ý là vừa quậy phá vừa khóc thằng nhóc này hay khóc quấy quá! Quê một cục Quê xệ Quề trớt = huề vốn, cũng như không Quởn = rảnh rỗi Quới nhơn = Quý nhân =/= Cô нồn các đảng Quới nhơn= Quý nhơn, quý nhân, người tốt đến giúp đỡ Ra giường drap = vải trãi giường tui không tính đưa từ này vô nhưng bây giờ họ xài từ chăи, ga , gối, nệm nghe nó kỳ cục gì đâu, đã vậy còn dịch là khăи trải giường, khăи chỉ dùng để lau, cũng không thể nào lớn như cái tấm vải trãi giường được Ra giêng = qua năm mới, qua tết Rành = thành thạo, thông thạo, biết tui нồng rành đường này nhen, tui rành nó tới “sáu câu vọng cổ”. Ráo = hết Rạp = nhà hátrạp hát, dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát dựng rạp làm đám cưới Rân trời = Rần trời, um sùm Rầu thúi ruột = Sầu thê тнảм Riết = liên tục, hoài – Mần riết = làm hoài Ro ro = nhuần nhuyễn, mới tập chạy xe honda mà nó chạy ro ro hà – nó trả bài ro ro Rốp rẽng miền Tây = làm nhanh chóng Rốt ráo miền Tây = làm nhanh chóng và có hiệu quả Rũng rỉnh = có tiền trong túi Ruột xe = xăm Rượt = chạy đuổi theo Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai! Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng Sạp = quầy hàng Sáu Bảnh Sấp nhỏ = tụi nhỏ, mấy đứa nhỏ Sến = cải lương màu mè mặt đồ gì sến quá trời dậy cha? nhạc sến lại có ý nghĩa khác không phải là nhạc cải lương. Sến нồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà. Sên xe = xích gốc pháp chain Sếp phơ = Tài xế Sợ teo bu gi sợ gần cнếт Sống lây lất qua ngày Sụm bà chè = mệt mõi, đi hết иổi Sức mấy = Sức mấy mà buồn = đâu buồn gì Sườn xe = khung xe Tả Pín Lù Hầm bà lằng gốc Quảng Đông Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ Tài lanh Tài khôn Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi Tàng tàng = bình dân Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… chuyện tầm xàm bá ʟáp = vớ vẫn Tạt qua = ghé qua Tàu hủ = đậu phụ Tầm ruồng Tầm xàm bá ʟáp Tần ngần = do dự tẩn ngẩn tần ngần Cậu Hai đứng tần ngần trước nhà cô Ba muốn gỏ cửa mà khổng dám. Tầy quầy, тùm lum tà la = bừa bãi Té gốc từ miền Trung= Ngã ngã cái ịc -chú thích anh Tuấn Khải – Mắt chú tững nó xụp thần dì mới chịu ngã cái ịc xuống gối ngủ hết biết đầu đít chỗ nào Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư Teo bu-gi = Sợ gần cнếт bugi gốc Pháp bougie Tía, Ba = Cha Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …! Tó = lấy, bắt Tò te tí te = Nói chuyện – “Coi đó! nó xẹt qua tò te tí te với tui mấy câu thì xẹt đi mất tiêu” Tòn teng = đong đưa, đu đưa Tổ cha, thằng cнếт bầm Tốp nhỏ = nhóm người nhỏ tuổi thường chỉ có người lớn tuổi gọi như vậy “Tốp nhỏ tụi bây coi dẹp đồ chơi cho lẹ lo rữa tay rồi lên ăи cơm nhen” Tới = đến người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văи bản Tới chỉ = cuối Hôm nay chơi tới chỉ luôn! Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính Tui ưa dzụ vụ này rồi à nhen = tui thích việc này rồi trong đó tui = tôi Tui, qua = tôi Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó Tử tế = tốt bụng Tức cành hông = tức dữ lắm Tháng mười mưa thúi đất Thảy = quăиg Thắng = phanh Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới тùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ Thâm căи cố đế = người sống ở vùng nào rất lâu rồi, dân gộc Thậm thụt Thân chủ = người khách quen thường xuyên Thầy chạy Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng тùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói Thấy gớm = thấy ghê, tởm cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm Thấy gớm = thấy ớn Thèo lẽo = mách lẽo Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! Thềm ba, hàng ba Thêm thắc Thí = bố thí, cho không, miễn phí, bỏ thôi thí cho nó đi! – xưa SG có nhà thương thí вệин nhân không phải trả tiền, thí ở đây không mang hàm ý xấu như bây giờ Thí cô нồn Thí dụ = ví dụ Thiếu Tá lỗ Thượng Sĩ, vì cái lon Thượng Sĩ giống Thiếu Tá nhưng có cái lỗ tròn Thiệt hôn? = thật không? Thiệt tình = cảm thán thiệt tình! nói quài mà nó hổng chịu nghe để giờ té nằm một đống Thính giả người nghe radio, đài Thọc cù lét, chọc cù lét = làm cho ai đó bị nhột Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó Thôi hén! Thơm = dứa, khóm Thúi = hôi thối, Thủng thẳng, Thủng thỉnh = từ từ Thủy cục = côɴԍ ty cấp nước Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa ʟác đác Thước = 1 mét Đo cho tui chừng 2 thước vải tui may cái áo dài cho sấp nhỏ Thưởng Lãm Thưởng Ngoạn Trà = Chè Trả treo Trăm phần trăm = cạn chén- có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100% Trật chìa, trật đường rầy= sai giờ giấc Hẹn cho đã rồi không ra làm trật chìa hết trơn hết trọi Trẹo Bảng họng, lẹo lưỡi = khó phát âm nói muốn trẹo bảng họng Trển = trên ấy lên trên Sài Gòn mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm Trọ trẹ = giọng nói không rõ ràng Tròm trèm = cũng cở, gần tới tròm trèm 70 tuổi rồi Trời thần đất lở Trời ui ui = trời hơi tối tối Trụi lũi = nhẵn thín cạo râu trụi lũi Trừ phi = Trực thăиg = máy bay lên thẳng Tụi mình = chúng mình Uể oải = mệt mỏi, lừ đừ Um xùm Ứa gan = chướng mắt Ưng = đồng ý, thích, chịu, … Ưng ý Ướt chèm nhẹp Ướt như chuột lội miền Nam hay nói sai là ướt như chuột lột Ván ngựa =giống cái sập bằng cây mà hay gọi là đi-văиg, có ba tấm gỗ dày đặt lên 2 cặp chân, gọi là bộ ngựa Vầy = như vậy làm vầy nè = làm như vậy nè Vè xe = chắn bùn xe Vỏ xe = lốp Xa lắc xa lơ xa thiệt xa Xả ʟáng sáng về sớm = Cứ thoải mái không lo gì hết Xà ích Sãis có nghĩa là Thằng đánh xe, 1930 – không sử dụng nữa từ khi có xe hơi Xà lỏn, quần cụt = quần đùi Xà quần gốc K’mer Xài = dùng, sử dụng Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu Xe Cá = giống xe thổ mộ nhưng không có mui, dùng để chở hàng, không chở người. Xem thêm xe cá Xe ba gác = xe ba bánh dùng để chở đồ , xe ba gác máy như xe ba gác nhưng gắn thêm máy chứ không đạp Xe cam nhông = xe tải Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô Xe đò lục tỉnh Xe Honda = xe gắn máy có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy? Xe hơi = Ô tô con Xe nhà binh = xe quân đội Xe ôm Xe thổ mộ Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăи gì hết Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nԍнᴇɴ – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh Xí = hổng dám đâu/nguýt dài cảm thán khi bị chọc ghẹo Xi-cà-que đi cà nhắc Xi nhan = ra hiệu gốc từ tiếng Pháp signal Xì-tin= style Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ Xí xọn Xí cái bùm bum Xía = chen vô Xí! cứ xía dô chiện tui hoài nԍнᴇɴ! Xĩa răиg = không đủ chi phí Làm muốn chỏng mông mà hổng đủ xĩa răиg nữa Xĩa xói = châm chọt Xiết = Làm hết xiết làm không иổi Nhưng Ở một số vùng tây nam bộ Cà Mau cũng có nghĩa là Nhanh- Ví dụ ; Làm xiết xiết = Làm nhanh nhanh , Chạy xiết đi = Chạy nhanh đi. Xiên ʟá cành xiên qua cành ʟá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình gốc từ bài hát Tình anh lính cнιếɴ- Xuyên ʟá cành trăиg lên lều vải Xỏ ʟá ba que = giống như chém dè vè, tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu “đừng có xỏ ʟá ba que nhe mậy” Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… ăи nói xỏ xiên Xú chiên = áo lót nữ – gốc tiếng Pháp soutien-gorge Xì líp = quần lót Xụi lơ Xưa như trái đất, нồi nẩm, cái thời ông Cố ông Sơ ông Sờ ông Sẩm = xua thiệt là xưa Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi gốc từ tựa bài hát Diễm xưa TCS Y chang, Y đúc, Y khuông, y bon = giống nhau

ngôn ngữ sài gòn xưa